Thứ Ba, ngày 26 tháng 3 năm 2013

Bát cương


Bát cương
- Trước triệu chứng phức tạp của bệnh tật, người thày thuốc phải dựa vào bát cương để đánh giá được vị trí, tính chất, trạng thái và xu thể hướng tiến triển của bệnh tật, giúp cho công việc chẩn đoán nguyên nhân bệnh và đề ra được các phương pháp chữa bệnh chính xác và có hiệu quả.
- Bát cương bao gồm: biểu và lý (ngoài, trong); hàn và nhiệt (nóng, lạnh); hư và thực; âm và dương. Trong đó âm và dương là hai cương lĩnh tổng quát, nên gọi là tổng cương.
I/ NỘI DUNG CỦA BÁT CƯƠNG (8 CƯƠNG LĨNH)
1. Biểu và lý (chẩn đoán về giai đoạn của bệnh)
- Biểu và lý là hai cương lĩnh đầu tiên trong 8 cương lĩnh để xác định về bệnh tật, chức năng của nó là đánh giá và xác định vị trí nông sâu của bệnh tật, giúp cho khả năng tiên lượng bệnh và đề ra phương pháp chữa bệnh thích hợp (bệnh tại biểu thường dùng các phép phát tán, bệnh tại lý thì hay dùng các phép thanh, hạ, ôn, bổ ..)
a/ Biểu chứng: thường do ngoài tà gây bệnh
- Bệnh ở biểu hay bệnh ở phần vệ là chỉ bệnh còn ở bên ngoài, ở phần nông (gân xương, cơ nhục, kinh lạc, bệnh mới mắc hay bệnh còn ở giai đoạn đầu khởi phát của bệnh (VD các bệnh thuộc cảm mạo, các bệnh truyền nhiễm…)
- Các triệu chứng biểu hiện của bệnh trên ls:

1.        Phát sốt sợ gió
2.        Sợ lạnh
3.        Đau đầu
4.        Đau mình mẩy
5.        Ngạt mũi và ho
6.        Rêu lưỡi trắng mỏng
7.        Mạch phù
8.        Các tr/c khác ..

b/ Lý chứng: là chỉ bệnh ở bên trong, ở sâu, thường là bệnh thuộc các tạng, bệnh truyền nhiễm ở giai đoạn toàn phát có biến chứng gây mất tân dịch (nước, điện giải, máu) theo YHCT gọi tổn thương đến phần dinh – khí - huyết. Các biểu hiện trên ls:

l  Sốt cao – khát
l  Mê sảng, vật vã
l  Chất lưỡi đỏ, rêu vàng
l  Nước tiểu đỏ, ít
l  Nôn, đau bụng
l  Phân táo hoặc ỉa chảy.
l  Mạch      trầm

- Bệnh ở lý có thể từ ngòai truyền vào, nhưng cũng có thể là do tà khí trúng ngay tạng phủ, nguyên do tình chí làm rối loạn hoạt động của các tạng phủ
* Sự phân biệt bệnh tại biểu hay tại lý thường dựa vào các tiêu chí sau:
l  Sốt cao hay sốt kèm theo sợ lạnh
l  Chất lưỡi đỏ hay nhạt
l  Rêu lưỡi vàng hay trắng
l  Mạch phù hay mạch trầm
- Biểu và lý còn có sự phổi hợp khác nhau với các cương lĩnh khác như với hư và thực, với hàn và nhiệt, có cả sự thác tạp giữa biểu chứng và lý chứng

2. Hàn và nhiệt (chẩn đoán tính chất bệnh)
 - Hàn và nhiệt là hai cương lĩnh đánh giá tính chất của bệnh, giúp cho thầy thuốc chẩn đoán các loại hình của bệnh và đề ra phương pháp chữa bệnh hợp lý (bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn; nhiệt thì châm, hàn thì cứu).
a/ Hàn chứng: với các tr/ chứng: sợ lạnh, thích ấm, miệng nhạt không khát, sắc mặt xanh trắng, tay chân lạnh, nước tiểu trong dài, đại tiện thì lỏng, chất lưỡi thì nhạt, rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch trầm trì.
b/ Nhiệt chứng: với các tr/ chứng: sốt hoặc sốt cao nhưng thích mát (ăn và uống …), sắc mặt đỏ, tay chân nóng. tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện thì táo. chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng và khô, mạch sác
* Sự phân biệt hàn chứng và nhiệt chứng tập trung voà các tr/ chứng sau: Sốt nhưng sợ nóng hay lạnh thích ấm; khát hay không khát; sắc mặt đỏ hay trắng xanh; tay chân nóng hay lạnh; tiểu tiện đỏ ít hay trong dài; đại tiện táo khô hay ỉa chảy; rêu lưỡi vàng hay trắng; mạch trì hay mạch sác
* Hàn chứng thuộc về âm thịnh và nhiệt chứng thuộc dương thịnh. Hàn nhiệt còn phối hợp với các cương lĩnh khác như biểu lý, hư thực, ngoài ra còn có hàn nhiệt lẫn lộn, thực giả.
3. Hư và thực (đánh giá trạng thái người bệnh và tác nhân gây bệnh - mức độ bệnh)
- Hư và thực là hai cương lĩnh dùng để đánh giá trạng thái người bệnh và tác nhân gây bệnh, để thấy thuốc áp dụng nguyên tắc điều trị bệnh (hư thì bổ, thực thì tả)
a/Hư chứng: biểu hiện của chính khí suy yếu (không đầy đủ), nên sự phản ứng (đề kháng) của cơ thể chống  lại tác nhân gây bệnh giảm sút. Chính khí của cơ thể (đề kháng) bao gồm 4 mặt chính là âm. Dương, khí, huyết, trên ls có biểu hiện tr/ chứng của chính khi giảm sút là âm hư, dương hư, khí hư, huyết hư
- Những biểu hiện chung tr/ chứng trên ls là: tinh thần thì yếu đuối, sắc mặt thì trắng bợt, người thì mệt mỏi không có sức, thể trạng sút cân gầy, hay hồi hộp thở ngắn, đoản hơi và khí, ngại nói, tự ra mồ hôi hoặc mồ hôi trộm, tiểu nhiều lần hoặc không tự chủ, chất lưỡi nhạt, mạch thì tế nhược….
b/ Thực chứng: Là do cảm phải ngoại tà hay do khí trệ, huyết ứ, đàm tích, ứ nước, giun sán gây bệnh, các biểu hiện chính trên ls là: tiếng thở thô mạnh, phiền táo, ngực bụng đầy chướng, đau cự án, phân táo, mót rặn, bí tiểu tiện, đái buốt và rắt, rêu lưỡi vàng mạch thực hữu lực
* Sự phân biệt hư và thực chứng căn cứ vào các tiểu chí sau:
- Bệnh cũ hay bệnh mới
- Tiếng nói, hơi thở nhỏ hay to
- Dấu hiệu cự án hay thiện án
- Chất lưỡi dày cộm hay mềm bệu
- Mạch vô lực hay hữu lực
* hư và thực còn phối hợp với các cương lĩnh khác: hư thực lẫn lộn, thực giả lẫn lộn
4. Âm và dương: Âm dương là hai cương lĩnh tổng quát để đánh giá xu thế chung của bệnh tật, vì những hiện tượng, hàn, nhiệt, hư, thực, luôn luôn phối hợp và lẫn lộn với nhau. Sự mất thăng bằng của âm dương biểu hiện bằng sự
+ Thiên thắng ( âm thịnh và dương thịnh)
+ Thiên suy (âm hư, dương hư, vong dương và vong âm)
* Thiên thắng:
a/ Âm chứng và dương chứng:
-         Âm chứng thường bao gồm các chứng hư và hàn;
-  Dương chứng thường bao gồm chứng thực và nhiệt
Âm chứng (âm thịnh)
Dương chứng (dương thịnh)
Người lạnh, tay chân lạnh, tinh thần mệt mỏi, thở nhỏ, thích ấm, không khát, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng, nằm quay vào trong, sắc mặt trắng, lưỡi nhạt, mạch trầm nhược
Tay chân ấm, tinh thần hiếu động (hưng phân, kích động), thở to và thô, sợ nóng, khát nước, nước tiểu đỏ, đục và ít, đại tiện thì táo, nằm quay ra ngoài, sắc mặt đỏ, mạch hoạt sác, phù sác hữu lực
* Thiên suy (hư chứng):
b/ Âm hư và dương hư:
- Âm Hư: Do tân dịch, huyết không đủ; phần dương trong cơ thể nhân âm hư, nổi lên sinh ra chứng hư nhiệt gọi là “âm hư sinh nội nhiệt”
- Dương hư: Do các công năng trong người bị giảm sút, dương khí ra ngoài, phần vệ bị ảnh hưởng, nên sinh ra chứng sợ lạnh, chân tay lạnh “dương hư sinh ngoại hàn”
Âm hư
Dương hư
Triều nhiệt, nhức trong xương, ho khan, họng khô, hai gò má đỏ, ra mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt, vật vã, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác
Sợ lạnh, chân tay lạnh, ăn uống chậm tiêu, di tinh liệt dương, đau lưng, mỏi gối, rêu lưỡng trắng, chất lưỡng nhạt, ỉa chảy, tiểu tiện trong dài, mạch nhược, vô lực

c/ Vong dương và vong âm: là hiện tượng mất nước, do ra, nôn, mồ hôi và ỉa chảy nhiều. Vì âm và dương nương tựa vào nhau, nên khia mất nước và điện giả đến một giai đoạn nào đó sẽ gây ra tình trạng vong dương, tức là choáng và trụy mạch hay còn gọi là thoát dương.
Chứng
Mồ hôi
Tay chân
Lưỡi
Mạch
Các chứng khác
Vong âm
Nóng và mặn
không dính
Ấm
Khô
Phù vô lực
mạch xích yếu
Khát, thích uống
nước lạnh.
Vong dương
Lạnh, dính,
vị nhạt
Lạnh
Nhuận
Phù sác, vô lực.
Hoặc vi muốn
tuyệt
Không khát,
thích uống
nước nóng
II/ SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƯƠNG LĨNH
1. Biểu, lý, hàn, nhiệt. Gồm 4 chứng: biểu hàn, biểu nhiệt, lý hàn, lý nhiệt.
Chứng
T/ chứng trên ls
Tên bệnh thường gặp
Biểu hàn
Sợ lạnh nhiều, sốt ít, đau người, không có mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn
Cảm mạo phong hàn
Biểu nhiệt
Sợ lạnh ít, sốt nhiều, miệng hơi khát, có mồ hôi, đầu lưỡi đỏ, mạch phù sác
Cảm phong nhiệt; ôn bệnh ở phần vệ ( bệnh truyền nhiễm
Lý hàn
Người lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt trắng xanh, không khát, thích uống nước nóng, ít nói, tiểu tiện trong, đại tiện lỏng, rêu trắng, lưỡng nhạt, mạch trầm trì
Thận dương hư hàn, tỳ vị hư hàn.
Lý nhiệt
Mặt đỏ, người nóng, miệng khô khát, thích nước mát, phiền táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch hồng sác
Nhiệt tại khí phận (nhiệt ở dương minh)
2. Biểu, lý, hư, thực: Gồm 4 chứng: biểu hư, biểu thực, lý hư, lý thực
Chứng
T/ chứng trên ls
Tên bệnh thường gặp
Biểu hư
Tự hãn, sợ lạnh, rêu lưỡng trắng mỏng, mạch phù hoãn
Cảm phong hàn/ thể trung phong
Biểu thực
KHông có mồ hôi, sợ lạnh, đau mình, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn
Cảm mạo phong hàn/ thể thương hàn
Lý hư
Lý thực
ND giống như hư thực trong phần bát cương

III/ THÁC TẠP (lẫn lộn) GIỮA CÁC CƯƠNG LĨNH
1. Biểu lý thác tạp: Trên một người bệnh vừa có các tr/ chứng, chứng bệnh ở biểu và vừa có ở lý, còn được gọi là biểu lý đồng bệnh ,  khi cữa bệnh phải chữa phần biểu và vừa chữa phần lý, gọi là biểu lý song giải.
- VD: người bệnh có tr/ chứng sốt, sợ lạnh (biểu chứng), nhưng lại có tr/ chứng vật vã, khát nước (lý chứng). vậy nên trong điều trị vừa giải biểu bằng các vị  ma hoàng, quế chi và vừa thanh nhiệt sinh tân bằng  thạch cao…
2. Hàn nhiệt thác tạp: Trên một người bệnh vừa có chứng hàn vừa có chứng nhiệt, có thể có các thể bệnh như sau: biểu hàn lý nhiệt, biểu nhiệt lý hàn, hoặc tạng phù này hàn tạng phủ kia nhiệt.
3. Hư thực thác tạp: Chứng hư và chứng thực cùng xuất hiện:
- VD: Trong bệnh truyền nhiễm bệnh nhân sốt cao, mạch nhanh, nước tiểu đỏ…, là tr/ chứng của thực chứng, nhưng sốt làm cho tân dịch bị mất gây táo, vật vã và mê sảng (âm hư) thuộc hư chứng
- Bệnh nhân thể tạng yếu thuộc hư chứng, lại mắc thêm bệnh cảm mạo: có các tr/ chứng như sốt, đau mình mẩy, ngạt mũi ( thực chứng), gọi là hư trung hiệp thực
IV/ HIỆN TƯỢNG CHÂN GIẢ
- Hiện tượng chân giả là hiện tượng tr/chứng của bệnh xuất hiện không phù hợp với bản chất, nguyên nhân của bệnh.  Có hai thể bệnh sau:
1. Chân hàn giả nhiệt: Do bên trong chứng âm hàn mạnh, bức  dương khí ra ngoài. Hoặc là sự chuyển hóa của quy luật hàn cực sinh nhiệt của bệnh tật. VD: chứng (bệnh) ỉa chảy do lạnh (chân hàn) nhưng do mất nước (tân dịch và điện giải) gây tr/ chứng khát, vật vã, miệng khô, mình nóng, thậm chí có sốt cao và co giật (giả nhiệt)
Chân hàn
Giả nhiệt
Đau bụng, ỉa chảy, nôn mửa, tay chân lạnh, mồ hôi tự chảy, nói nhỏ, ăn ít, đầy bụng, tiểu tiện trong trắng, chất lưỡi mềm bệu, rêu lưỡi trơn, mạch trầm vi muốn tuyệt
Phiền táo khát nước ( giả nhiệt), nhưng không muốn uống (chân hàn), miệng mũi khô, có khi chảy máu, mắt đỏ, mình nóng (giả nhiệt), nhưng ấn sâu không thấy nóng (chân hàn)
2. Chân nhiệt giả hàn: Bên trong là nhiệt nhưng giả hàn bên ngoài, như trong các bệnh truyền nhiễm do độc tố gây trụy mạch ngoại biên, với tr/ chứng chân tay lạnh, mạch vi (giả hàn)
Chân nhiệt
Giả hàn
Hơi thở thô và nóng, họng khô miệng khô, rêu lưỡi vàng đen, rất khát, nói sảng, bụng đầy chướng, ấn vào đau, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo
Tay chân quyết lạnh ( giả hàn), nhưng không muốn mặc áo (chân nhiệt), mạch trầm trì (giả hàn), ấn xuống thấy mạch đập mạnh và hữu lực (chân nhiệt)
V/ HIỆN TƯỢNG BÁN BIỂU BÁN LÝ
- Có những bệnh không ở biểu mà cũng không ở lý gọi là bán biểu bán lý. TRong sách thương hàn luận thì chứng này thuộc về bệnh ở kinh thiếu dương (thái dương là biểu bệnh, dương minh là lý bệnh). Khi chữa bệnh không thể dùng phương pháp giả biểu được (bệnh không phải ở biểu) và không thể dùng phương pháp thanh hạ được (bệnh không phaiar ở lý), trong trường hợp này phải dùng phương pháp hòa giải gọi là hòa giải thiếu dương. Trên lâm sang có biểu hiện của các tr/ chứng như: lúc nóng lúc lạnh (hàn nhiệt vãng lai), ngực sườn đầy tức, miệng đắng, lợm giọng, buồn nôn, họng khô, mắt hoa, mạch huyền …

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét